Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm vùng sản xuất nông nghiệp tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La _Ảnh: TTXVN
Thực trạng nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam trong thời gian qua
Ở Việt Nam, một số phương thức canh tác sinh thái đã được triển khai mang lại hiệu quả và tạo tiền đề cho phát triển nông nghiệp sinh thái. Tất cả các phương pháp này nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm thiểu thất thoát, lãng phí, mang lại sản phẩm an toàn, chất lượng cao, giảm thiểu tác động đến môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và sức khỏe con người. Dưới đây là một số tập quán canh tác điển hình đã được thực hiện trong những năm qua:
Mô hình chăn nuôi vườn – ao – chuồng (VAC): Phương pháp này phổ biến ở Việt Nam từ những năm 1980. Nó đề cập đến một hình thức nông nghiệp nội địa tích hợp hoàn toàn, trong đó các sản phẩm luôn được đưa vào chu trình sản xuất. Đây là một hệ thống sinh thái hoàn chỉnh và tích hợp với vốn đầu tư thấp và phù hợp với hầu hết các khu vực ngoại ô và nông thôn của Việt Nam. Đây có thể coi là mô hình canh tác sinh thái ở dạng đơn giản nhất và đang được áp dụng rộng rãi ở các vùng nông thôn. Hiện nay, nhiều cách làm VAC dẫn đến sự kết nối hiệu quả giữa nông dân, doanh nghiệp và nhà khoa học. Sản phẩm của họ luôn được người tiêu dùng trong nước và quốc tế đánh giá cao, tiếp cận được thị trường rộng lớn. Từ canh tác nhỏ lẻ của tiểu nông, ban đầu nhằm mục tiêu an ninh lương thực, xóa đói, giảm nghèo,
Nuôi lúa-tôm, lúa-cá Mô hình: Hệ thống canh tác nông - thủy sản kết hợp (lúa - tôm, lúa - cá) là hướng đi mới trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trong những năm gần đây. Mô hình này nổi lên từ đầu những năm 2000 ở các tỉnh ĐBSCL. Trong hệ thống này, phụ phẩm từ nuôi tôm, cá được sử dụng làm chất bổ sung dinh dưỡng cho cây lúa; ngược lại, khi thu hoạch lúa, phụ phẩm từ lúa được tận dụng làm thức ăn cho tôm, cá. Với mô hình luân canh cây trồng này, cây trồng, vật nuôi không sử dụng thuốc trừ sâu, kháng sinh nhằm cung cấp sản phẩm hữu cơ, an toàn và bảo vệ môi trường, nâng cao thu nhập cho người nông dân. Đến nay, mô hình này đang được chuyển đổi thành mô hình “lúa hữu cơ - tôm hữu cơ” và “lúa hữu cơ - cá hữu cơ”. Đây là kết quả của sự đổi mới, sáng tạo dựa trên tri thức và điều kiện tự nhiên của từng vùng miền. Cách làm này mang lại những lợi ích như phát triển nông nghiệp bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và đưa sản phẩm hữu cơ ra thị trường. Đặc biệt, mô hình này là giải pháp để các hộ dân vùng trũng, vùng lũ chuyển dịch sản xuất, nâng cao thu nhập, giảm thiểu tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra.
Hệ thống nông lâm kết hợp: mô hình nông-lâm nghiệp là một hệ thống sử dụng đất trong đó cây hàng năm, cây bụi và cây thân thảo được sử dụng có chủ ý trên cùng đơn vị quản lý đất như cây trồng. Hệ thống Silvopastoral kết hợp lâm nghiệp và chăn thả động vật thuần hóa trên đồng cỏ. Sự kết hợp này tạo ra sự đa dạng, năng suất, lợi nhuận, sinh thái và tính bền vững trong sử dụng đất. Đa dạng sinh học trong các hệ thống nông lâm kết hợp thường cao hơn so với các hệ thống nông nghiệp truyền thống. Vì vậy, nhiều nông dân đã lựa chọn chuyển đổi sang mô hình nông lâm kết hợp để đa dạng hóa sản phẩm, cải thiện sinh kế cũng như thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu. Ở Việt Nam, có nhiều phương thức canh tác nông lâm kết hợp như trồng đậu Hà Lan theo hệ thống cây trồng theo ngõ trong cảnh quan nông nghiệp hàng năm để giảm xói mòn và sử dụng phân xanh tại chỗ; kết hợp cây màu và cây lâm nghiệp; chăn thả gia súc trên cảnh quan nông nghiệp; trồng rừng quy mô nhỏ kết hợp với hoa màu, cây ăn quả, cây lương thực; kết hợp giữa cây ăn quả và cây công nghiệp.
Hệ thống nông nghiệp cảnh quan bền vững: đây là một cách tiếp cận tích hợp để giải quyết suy thoái môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng cường đa dạng sinh học, cải thiện an ninh lương thực và dinh dưỡng. Đến nay, nhiều mô hình nông nghiệp cảnh quan bền vững đã diễn ra như mô hình cà phê cảnh quan ở Lâm Đồng, Đắk Lắk; quản lý, bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước và phát triển sinh thái bền vững Vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp.
Hệ thống chăn nuôi an toàn sinh học 4F (Trang trại - Thức ăn - Thức ăn - Phân bón): Mô hình 4F được Tập đoàn Quế Lâm nghiên cứu và phát triển nhằm xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp thông qua việc triển khai các tổ hợp chế biến nông sản hữu cơ để kiểm soát sản xuất thịt lợn an toàn trong chăn nuôi khép kín hệ thống. Bã, phân trong trang trại được tái chế để sản xuất phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho trồng trọt, hình thành chu trình canh tác khép kín từ chăn nuôi đến trồng trọt, từ cây xanh đến đất trồng. Hệ thống này mang lại hiệu quả kinh tế, giúp ngăn ngừa dịch bệnh, bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính.
Hệ thống du lịch sinh thái nông nghiệp: đây là hệ thống sử dụng nguyên lý tổng hợp của nông nghiệp sinh thái. Du lịch sinh thái nông nghiệp là mô hình ngày càng được đầu tư và chú trọng tại Việt Nam trong những năm gần đây, tạo nhiều sức hút đối với du khách trong và ngoài nước cũng như tăng thu nhập cho người nông dân. Thời gian qua, ở Việt Nam đã có nhiều mô hình du lịch sinh thái nông nghiệp thành công như du lịch nông nghiệp ở Hội An (tỉnh Quảng Nam), Ba Vì (TP. Hà Nội), Tam Đường (tỉnh Lai Châu), Sa Pa (tỉnh Lào Cai). ),...
Canh tác hữu cơ: Gần đây, các biện pháp canh tác nông nghiệp hữu cơ cũng được đầu tư. Nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản được hình thành. Đến nay, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam đạt trên 170 nghìn ha.
Một số tỉnh như Lâm Đồng, Đắk Lắk đang phát triển hệ thống nông nghiệp cảnh quan cho cây cà phê. Mô hình này tích hợp các nguyên tắc về hiệu quả, đa dạng, địa phương và quản trị xã hội và cũng mang tính nhân đạo. Đây là hướng đi rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam. Đặc biệt với các hệ thống cảnh quan bền vững, vai trò của doanh nghiệp rất quan trọng vì họ tham gia từ khâu đầu vào đến khâu tiêu thụ sản phẩm do người nông dân cung cấp.
Tuy nhiên, để chuyển đổi sản xuất sang nền nông nghiệp sinh thái, chúng ta còn phải đối mặt với vô vàn thách thức:
Trước hết, hiện nay, khái niệm nông nghiệp bền vững chưa phổ biến. Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu tập trung vào tăng sản lượng mà chưa quan tâm nhiều đến an toàn thực phẩm, tính tự bền vững của hệ thống sản xuất, đa dạng sinh học, sức khỏe đất, sức khỏe cây trồng. Việc cải thiện chất lượng sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức. Hơn nữa, sản xuất chưa đáp ứng được sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi của khách hàng tại thị trường trong nước cũng như quốc tế. Hiện diện tích canh tác hữu cơ của Việt Nam mới đạt khoảng 170 nghìn ha, diện tích canh tác được chứng nhận tiêu chuẩn bền vững như VietGAP, GlobalGAP, các chứng nhận tương tự chỉ chiếm 10%.
Thứ hai, chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là canh tác sinh thái. Nông nghiệp là ngành sản xuất có lợi nhuận thấp và thường gặp rủi ro như thiên tai. Ngoài ra, thị trường nông sản cũng có nhiều biến động và rủi ro. Đây là một trong những yếu tố cản trở doanh nghiệp tham gia vào ngành nông nghiệp và chuỗi giá trị nông sản. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nông nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, năng lực tài chính hạn chế. Trên 90% là doanh nghiệp nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, hiệu quả thấp nên khó đẩy nhanh chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái.
Thứ ba, mặc dù nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm an toàn, hữu cơ đã được cải thiện nhưng họ vẫn chưa sẵn sàng trả giá tương xứng để mua. Mặc dù nhu cầu ngày càng tăng về chế độ ăn uống lành mạnh và đa dạng hóa chế độ ăn uống, người tiêu dùng không sẵn sàng trả một mức giá tương xứng. Nhận thức về mối liên hệ giữa sản xuất nông nghiệp với các vấn đề môi trường và xã hội, trong đó có biến đổi khí hậu, dinh dưỡng và sức khỏe còn chưa đầy đủ.
Thứ tư, ở Việt Nam hiện nay, tính liên kết tổng thể của các chuỗi giá trị nông nghiệp còn tương đối ngẫu nhiên. Hầu hết các hệ thống nông nghiệp sinh thái đều là mô hình thử nghiệm và chưa được phát triển trong thực tế. Nguyên nhân chính là do mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị còn lỏng lẻo.
Thứ năm, các chính sách nông nghiệp chưa đủ động lực để tạo môi trường bình đẳng cho nông nghiệp sinh thái và các phương thức nông nghiệp bền vững khác có tính đến các yếu tố bên ngoài của hệ thống lương thực và canh tác.
Giải pháp phát triển nông nghiệp sinh thái và chuỗi giá trị nông nghiệp
Trước hết, đẩy mạnh công tác truyền thông để thay đổi nhận thức của nông dân và xã hội về phát triển nông nghiệp bền vững.
Mặc dù Việt Nam đã phát triển một số mô hình canh tác sinh thái, nhưng không dễ để thực hiện các nguyên tắc này vì đây là một khái niệm và cách tiếp cận mới. Để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái, trước hết cần xây dựng các chiến lược truyền thông nhằm thay đổi nhận thức của các nhà quản lý, nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Hơn nữa, điều cần thiết là thay đổi nhận thức của xã hội để thúc đẩy canh tác bền vững và khuyến khích người tiêu dùng mua các sản phẩm hữu cơ. Có chính sách phù hợp khuyến khích doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hữu cơ ra thị trường.
Thứ hai, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp, tăng cường chia sẻ tri thức hướng tới nền nông nghiệp bền vững, minh bạch và có trách nhiệm.
Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo, sử dụng giống cây trồng cập nhật, giống vật nuôi có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và thiên tai, ưu tiên thu thập gen, bảo tồn và phát triển hệ gen cây trồng, vật nuôi địa phương ở cả nông hộ và ngân hàng gen; hỗ trợ nông dân bảo tồn giống cây trồng, vật nuôi quý thông qua việc hỗ trợ phát triển giống địa phương thành sản phẩm đặc sản, nâng cao lợi ích kinh tế, giúp nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp. Thông qua các chính sách và chương trình hỗ trợ kỹ thuật để thúc đẩy các hệ thống canh tác bền vững (ví dụ: thực hành nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp chính xác, nông lâm kết hợp, nông nghiệp cảnh quan, v.v.) và trồng rừng, đặc biệt là ở các khu vực ven biển và suy thoái. Hệ thống sản xuất ở những vùng có điều kiện khắc nghiệt cần được đầu tư kết hợp với các ngành khác (ví dụ: bảo quản, chế biến, thu mua, phân phối sản phẩm,...). Xây dựng và thí điểm các biện pháp khuyến khích nhân rộng mô hình nông nghiệp thông minh với khí hậu nhằm giảm phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp và góp phần tăng cường lưu trữ các-bon. Tuyên truyền và quảng bá các kỹ thuật mới cũng như cách làm của địa phương để nâng cao năng suất mà không làm mất đi kinh nghiệm và kỹ thuật của địa phương.
Nghiên cứu đa dạng các mô hình nông nghiệp sinh thái, kỹ thuật phát triển nông nghiệp sinh thái ở các vùng, các ngành, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ thuật với nông dân để nhân rộng mô hình.
Ba là, xây dựng và hoàn thiện các tiêu chí đánh giá nền nông nghiệp sinh thái và các chứng chỉ.
Việc xây dựng chỉ tiêu này trước hết được thực hiện ở cấp hộ gia đình; sau đó có thể mở rộng ra cấp vùng, xã, huyện. Hiện các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá nền nông nghiệp bền vững đang được các tổ chức nghiên cứu và áp dụng vào thực tế. Việt Nam cần có tiêu chí về nông nghiệp sinh thái để đánh giá hệ thống nông nghiệp hiện tại và phát triển nông nghiệp bền vững phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam hoặc từng vùng, sản phẩm.
Bốn là, xây dựng chính sách hỗ trợ nông dân chuyển đổi từ nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp sinh thái.
Phát triển nông nghiệp sinh thái có thể làm giảm năng suất và hiệu quả trong ngắn hạn. Do đó, cần có các chính sách hỗ trợ để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi. Xây dựng một hệ sinh thái canh tác bền vững với sự tham gia của cộng đồng nông nghiệp là điều cần thiết cho quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái. Ngoài các chương trình tập huấn cho nông dân, cũng cần có chính sách hỗ trợ mua giống, kết nối chuỗi nông nghiệp, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm hữu cơ hay thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi để nâng tầm nông nghiệp sinh thái.
Năm là, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững.
Cần có chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Hỗ trợ doanh nghiệp thương mại hóa sản phẩm nông nghiệp thông qua các chính sách ưu đãi về tín dụng, thuế, đào tạo, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm. Nghiên cứu xây dựng các chương trình thúc đẩy tiêu thụ nông sản an toàn, có trách nhiệm, minh bạch, hỗ trợ các chương trình xúc tiến cho sản phẩm hữu cơ, từng bước tiến tới thực hiện nhãn hiệu sinh thái cho sản phẩm sinh thái.
Sáu là, xác định nông nghiệp bền vững với môi trường là định hướng, đồng thời là nhiệm vụ của các địa phương.
Cần đưa mục tiêu chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái trong chiến lược nông nghiệp. Trên cơ sở đó, xây dựng lộ trình, kế hoạch hành động phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa kế hoạch hành động của địa phương và kế hoạch chuyển đổi thành hệ thống lương thực bền vững quốc gia. Đánh giá, rà soát hệ thống chính sách nông nghiệp hiện hành của cả trung ương và địa phương để có những điều chỉnh nhằm đạt mục tiêu nông nghiệp bền vững./.
Nguồn: Lê Minh Hoàn (2023), "Phát triển nông nghiệp sinh thái và chuỗi giá trị", Tạp chí Cộng sản
Lợi Phạm