a) Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước
Tài nguyên nước chịu tác động mạnh nhất và trực tiếp nhất trước diễn biến của BĐKH, kéo theo các vấn đề về dân sinh, kinh tế và môi trường. Ví dụ như: El Nino năm 2014 kéo dài đến 2016 mới chấm dứt là một đợt mạnh và kéo dài kỷ lục, đã dẫn đến tình trạng hạn hán, thiếu nước trên phần lớn các khu vực ở nước ta như hiện nay, đặc biệt là khu Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và ĐBSCL trong mùa khô 2015-2016; tiếp theo đó là đợt hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô năm 2015-2016 cũng được coi ở mức nghiêm trọng như năm 2016...
Theo các kịch bản BĐKH, so với thời kỳ 1986-2005 dòng chảy năm trên các hệ thống sông Hồng - Thái Bình, Mã, Cả, Thu Bồn, Ba, Mê Công (đến Kratie) đều có xu hướng tăng khoảng 4-132%. Dòng chảy mùa lũ tăng khoảng 5-178%. Dòng chảy mùa cạn có xu hướng tăng khoảng 5-191%. Riêng dòng chảy mùa cạn trên sông Hồng - Thái Bình trong thời kỳ 2016-2035 theo kịch bản trung bình có xu hướng giảm nhẹ với mức độ giảm khoảng 0,05% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2021a).
Hạn hán có thể diễn ra nhiều hơn và khắc nghiệt hơn ở Trung Bộ. Xâm nhập mặn sẽ đặc biệt nghiêm trọng ở ĐBSCL. Nếu nước biển dâng 1m thì khoảng 1,77 triệu ha (45% diện tích đất) sẽ có nguy cơ bị nhiễm mặn (Trần Thọ Đạt, 2013). Vào cuối thế kỷ 21, chiều sâu xâm nhập ứng với độ mặn 1‰ có thể tăng lên trên 20 km trên các sông Đồng Nai, sông Tiền, sông Hậu, xấp xỉ 10 km trên sông Thái Bình (IMHEN và UNDP, 2015).
BĐKH làm gia tăng và nghiêm trọng hơn tình trạng lũ lụt. Đỉnh lũ cao nhất năm có thể tăng liên tục ở hầu hết các lưu vực sông, trừ một số vùng như hạ lưu sông Hồng - Thái Bình và sông Ba do có sự điều tiết của các hồ, đập. Lũ quét và trượt lở đất cũng xảy ra nhiều hơn, khốc liệt hơn ở vùng núi Bắc Bộ và Tây Nguyên.
BĐKH có thể làm suy giảm cao độ tuyệt đối mực nước dưới đất, làm giảm lượng tích trữ nước dưới đất và làm tăng diện tích chứa nước dưới đất mặn (Trung tâm Điều tra và Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, 2013a), (Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, 2013b).
b) Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất
Những thay đổi về điều kiện thời tiết (nhiệt độ, lượng mưa, hiện tượng khí hậu cực đoan,…) đã làm diện tích đất bị xâm nhập mặn, khô hạn, hoang mạc hóa, ngập úng, xói mòn, rửa trôi, sạt lở… xảy ra ngày càng nhiều hơn.
- Đất bị khô hạn: Tại Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, nắng nóng, hạn hán kéo dài, làm tăng nguy cơ đất đai bị khô cằn dẫn đến làm giảm chất lượng đất. Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng khô hạn nhất trên cả nước, một số nơi như Ninh Thuận, Bình Thuận thường phải đối mặt với hạn hán kéo dài. Hiện nay diện tích đất bị khô hạn của vùng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong đất nông nghiệp năm 2020 là 1.360.745 ha, dự báo đến năm 2030 là 1.366.519 ha, năm 2050 là 1.489.193 ha. Đất lâm nghiệp của vùng dự đoán bị khô hạn vào năm 2050 là 1.014.962 ha (tăng 62.689 ha so với năm 2030 và 191.551 ha so với hiện nay); đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm dự đoán có diện tích khô hạn vào năm 2050 là 469.300 ha (tăng 58.393 ha so với năm 2030 và 135.250 ha so với hiện nay) (Mai Hạnh Nguyên, 2015).
- Đất bị xói mòn, rửa trôi: Gia tăng nguy nóng trong mùa khô và tăng lượng mưa trong mùa mưa có thể gây xói mòn nhiều hơn. Vùng Tây Bắc có diện tích đất dốc chiếm 98% nên nguy cơ thoái hóa do xói mòn là rất lớn. Hàng năm, trong 6 tháng mùa mưa, lượng đất bị xói mòn chiếm 75÷100% tổng lượng xói mòn cả năm. Ở miền Trung, mưa tập trung vào tháng IX đến XII là nguyên nhân chính gây xói mòn rửa trôi (Mai Hạnh Nguyên, 2015).
- Sạt lở đất ở ven sông và vùng cao xảy ra thường xuyên ở Việt Nam và có nguy cơ ngày càng tăng do BĐKH khiến cho lượng mưa trong mùa mưa và dòng chảy lũ tăng. Sạt lở đất nghiêm trọng ở nhiều nơi dọc theo các hệ thống vào mùa mưa lũ, đặc biệt là ở hạ lưu các sông Hồng, Cửu Long, Trà Khúc, Ba... (Mai Hạnh Nguyên, 2015).
- Đất bị ngập úng: Thiên tai, lũ lụt, triều cường xảy ra liên tiếp cùng với NBD đã làm gia tăng ngập úng. Tại miền Trung, bình quân mỗi năm có khoảng 12 vạn ha lúa và hơn 6,2 vạn ha hoa màu bị ngập. Tại miền Nam, từ 2004 - 2007, đỉnh triều cường trên sông Hậu tại thành phố Cần Thơ mỗi năm cao thêm 4cm, gây nên tình trạng ngập lụt thường xuyên ở một số tuyến đường. Ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1999 đến nay, mực nước đỉnh triều liên tục tăng, từ 1,22m lên 1,55m (Mai Hạnh Nguyên, 2015). Ngập lụt do NBD là một trong những mối đe dọa chính đến tài nguyên đất của các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng và ven biển Việt Nam.
c) Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên rừng
Mặc dù diện tích độ che phủ rừng của Việt Nam tiếp tục gia tăng, tuy nhiên, chất lượng rừng tự nhiên ngày càng giảm (World Bank, 2019a). BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra nhiều và bất thường sẽ ảnh hưởng đáng kể đến các tài nguyên rừng, làm cho thảm thực vật rừng và hệ sinh thái (HST) rừng thay đổi cả về diện tích và phân bổ các kiểu rừng.
- Tác động đến diễn biến diện tích và phân bố các kiểu rừng
Rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới: HST rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới hiện tại có diện tích khoảng 3,827 triệu ha năm (2005), chiếm khoảng 11,4% diện tích toàn quốc. Với kịch bản nhiệt độ tăng 0,890C và lượng mưa tăng 2,5% thì diện tích của kiểu rừng này có thể bị giảm xuống nghiêm trọng, tổng diện tích ước tính chỉ còn khoảng 1,3 triệu ha (khoảng 3,89% diện tích tự nhiên) vào năm 2050. Phân bố của kiểu rừng cũng có thay đổi, diện tích ở khu vực Bắc Trung Bộ dần biến mất và khu vực phân bố chủ yếu của nó là ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (Vũ Tấn Phương & Nguyễn Viết Xuân, 2008).
Hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm: Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố sát ven biển và chịu ảnh hưởng nhiều bởi các nhân tố như khí hậu, thủy văn (dòng nước, độ mặn…) (Vũ Tấn Phương & Nguyễn Viết Xuân, 2008). BĐKH làm thay đổi chế độ thủy, hải văn, sóng biển và NBD sẽ làm thu hẹp diện tích của HST rừng ngập mặn. Diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp do một số loài cây không kịp thích ứng với các thay đổi của điều kiện môi trường như độ ngập triều, độ mặn, nhiệt độ. Hệ sinh thái rừng ngập mặn có tính đặc thù, rất nhạy cảm với những tác động của BĐKH. Bão với cường độ mạnh, tần suất tăng cũng hủy hoại rừng ngập mặn. Mực nước biển dâng sẽ làm gia tăng quá trình mặn hóa ở các vùng cửa sông và các vùng ven biển là nguy cơ lớn nhất đối với hệ sinh thái rừng tràm. Nước và đất nhiễm mặn quá giới hạn cho phép làm rừng tràm chết hoặc diện tích bị thu hẹp. Theo kịch bản BĐKH, khi mực nước biển dâng 1m, dự tính khoảng 300km2 (khoảng 15,8% tổng diện tích rừng ngập mặn của Việt Nam) sẽ bị ảnh hưởng (ADB, 2013).
- Tác động đến nguy cơ cháy rừng
Ở Việt Nam có khoảng 6 triệu ha rừng dễ cháy, trong điều kiện BĐKH, khi nhiệt độ ngày càng gia tăng, các đợt hạn hán có xu hướng gia tăng, do đó nguy cơ tiềm ẩn về cháy rừng ngày càng nghiêm trọng.
Ở vùng Bắc Trung Bộ, nguy cơ cháy rừng sẽ tăng trong các thập kỷ tới. Các tháng có nguy cơ cháy rừng cao là tháng V, VI và VII. Nguy cơ cháy rừng vào năm 2020 tăng hơn so với năm 2000 từ 6÷40%; năm 2050 là từ 16÷52% và vào năm 2100 là từ 51÷85%. Ở khu vực Tây Bắc Bộ, nguy cơ cháy rừng tăng cao vào các tháng XII, I, II và III, đặc biệt là tháng XII và tháng I. Nguy cơ cháy rừng tăng vào năm 2020 trong các tháng trên là từ 5÷41%; vào năm 2050 là từ 16÷35% và vào năm 2100 là từ 25÷113%. Với các vùng khác nguy cơ cháy rừng cũng đều tăng. Vùng Đông Bắc nguy cơ cháy rừng tăng cao vào các tháng I, II và III; vùng Nam Trung Bộ là từ tháng III÷VI; vùng Tây Nguyên là từ tháng III÷V; vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL là từ tháng I-IV (Trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên, 2019).
Ở khu vực Tây Bắc, số ngày có nguy cơ cháy rừng cao sẽ tăng lên từ 61 ngày/năm năm 2000 tăng lên 80 ngày/năm vào năm 2090. Cũng theo nghiên cứu này, ở thời điểm 2090, Sơn La là tỉnh có nguy cơ cháy rừng cao nhất với 101,8 ngày/năm đứng thứ hai là Hòa Bình với 77,4 ngày/năm; tiếp đến là Điện Biên với 70,7 ngày/năm và Lai Châu là tỉnh có nguy cơ cháy rừng thấp nhất với 55,2 ngày/năm (Lê Sỹ Doanh & Bế Minh Châu, 2014).
- Tác động đến nguy cơ phát triển và lây lan sâu bệnh hại rừng
Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao, mưa nhiều, gió mạnh, đất đai suy thoái... tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sâu bệnh, côn trùng phát triển và lây lan thành dịch bệnh rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát triển các HST rừng ở Việt Nam. BĐKH tạo điều kiện cho sâu róm thông phát dịch nhiều hơn ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên. Nguy cơ sâu róm thông sẽ tăng so với năm 2000 khoảng 10% vào năm 2020, khoảng 13% vào năm 2050 và 31% vào năm 2100 (Nguyễn Thế Nhã và nnk, 2010); sâu đục ngọn thông có khả năng phát dịch nhiều hơn ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; châu chấu tre luồng có khả năng phát dịch nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ; bọ xít muỗi có khả năng phát dịch nhiều nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên; mối có khả năng phát dịch nhiều ở hầu hết các vùng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020).
d) Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên biển và hải đảo
Hệ sinh thái biển ở Việt Nam đang chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH, đặc biệt là những vùng đất ngập nước ven biển, trong đó điển hình là khu vực rừng ngập mặn ở Cà Mau, TP. HCM, Vũng Tàu và Nam Định. Gia tăng nhiệt độ nước biển làm thay đổi mùa sinh trưởng, tăng bùng phát động thực vật phù du,… làm thay đổi môi trường theo chiều hướng bất lợi cho sự phát triển của thảm cỏ biển. BĐKH làm tăng axit hóa đại dương và các cơn bão mạnh, tàn phá các rạn san hô, thảm cỏ, biến đổi chủng loại và nguồn lợi cá biển. Hiện tượng san hô chết hàng loạt trong 20 năm qua do một số nguyên nhân, trong đó có lý do nhiệt độ ở các vùng biển đã tăng lên.
Các đảo và nhóm đảo ở Việt Nam chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất của BĐKH và nước biển dâng, gây ngập lụt các đảo. BĐKH tác động tới tài nguyên sinh vật, biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển, san hô ở các đảo trên toàn quốc.
e) Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên khoáng sản
Ngập do NBD có thể làm đất đá và quặng bị ngập nước, bị nhiễm mặn, nhiễm phèn làm tăng chi phí trong sản xuất. NBD có thể làm cho một số đứt gãy tái hoạt động kích thích các đới đập vỡ thành đường dẫn nước vào làm thay đổi đặc điểm địa chất thủy văn, địa chất công trình của mỏ. BĐKH cũng có thể tạo thuận lợi cho quá trình hình thành thân quặng mới. Một số loại khoáng vật nặng phân bố trong các đá rắn chắc (đá quý, vàng, titan, …) dễ dàng đi vào sa khoáng, một số mỏ sa khoáng, mỏ phong hóa có khả năng hình thành (Cục Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu, 2015).
Than là khoáng sản chịu tác động nhiều nhất bởi BĐKH. Địa bàn sản xuất kinh doanh, khai thác than tập trung ở vùng núi cao, ven biển và đồng bằng, một số vùng nguyên liệu và sản xuất phân bố trên các vùng có địa hình cao (sườn núi, núi) nên rất dễ bị tác động bởi trượt lở đất đá, lũ quét.
f) Tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học
Việt Nam là một trong 16 quốc gia có mức độ ĐDSH cao nhất thế giới (ADB, 2013) và cũng là quốc gia thứ hai trong khu vực Đông Á về số lượng các loài bị đe dọa tuyệt chủng (Rhind, 2012). Diện tích rừng tự nhiên có mức độ ĐDSH cao ở Việt Nam đã giảm đáng kể. Chỉ còn lại khoảng 0,5 triệu ha rừng nguyên sinh nằm rải rác ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ và hầu hết các rừng ngập mặn nguyên sinh đã biến mất. Phần lớn các loài chim đẹp và động vật có vú lớn đã biến mất. Nhiều khu rừng bị suy giảm không chỉ về phạm vi mà còn cả chất lượng môi trường sống (Ngân hàng thế giới và các đối tác phát triển, 2011). Trong tổng số 310 loài động vật có vú chính được nhận dạng thì có đến 78 loài đang bị đe dọa (căn cứ theo mức độ bị đe dọa cấp quốc gia), trong đó 46 loài được quốc tế công nhận.
BĐKH và nước biển dâng có thể làm thay đổi cấu trúc, vùng phân bố của các loài sinh vật và mức độ ĐDSH của các HST ở Việt Nam. Nhiệt độ tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần xã sinh vật, làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003). Nước biển dâng cùng với cường độ bão gia tăng sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và ô nhiễm nước, làm suy thoái và đe dọa rừng ngập mặn và các loài sinh vật đa dạng trong đó (Võ Quý, 2009). Rind (2012) dự báo đến năm 2070, các loài cây nhiệt đới vùng núi ở Việt Nam sẽ phát triển ở khu vực cao hơn hiện tại khoảng từ 100 m đến 500 m và dịch chuyển lên vùng phía Bắc khoảng 100 km đến 200 km so với vị trí hiện tại.
Tiềm năng đánh bắt hải sản cũng sẽ bị giảm trong điều kiện nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng, đại dương nóng lên và axít hóa đại dương. DARA và Climate Vulnerable Forum (2012) ước tính, nếu nhiệt độ tăng 0,5÷0,80C thì mức thiệt hại trong hoạt động khai thác thủy sản của Việt Nam (gồm khai thác biển và nội địa) vào khoảng 3,25 tỷ USD vào năm 2030 theo mức giá so sánh năm 2010.
BĐKH và NBD còn đe dọa tới tài nguyên di truyền và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chăn nuôi, một số giống hiện nay đang còn rất ít như lợn Ỉ, lợn Ba Xuyên, gà Hồ… (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013).
Nguồn: Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Lợi Phạm